Lãnh địa chiến đất của Ukraine đang biến đổi tương lai của NATO

(SeaPRwire) –   Đây là phần thứ ba của một loạt bài kiểm tra các thách thức đối mặt với liên minh NATO.

LVIV, Ukraine — Bốn năm sau khi Nga xâm lược Ukraine, các quan chức trên toàn bộ cánh phía đông của NATO ngày càng tin rằng tương lai của liên minh đã đang được viết lại trên chiến trường Ukraine.

Từ chiến tranh bằng drone và phòng thủ mạng đến khả năng phục hồi của dân sự và tổng động員 quân sự quy mô lớn, các quan chức Đông Âu cho rằng Ukraine đã trở thành một trong những lực lượng quân sự được kiểm tra trên chiến trường nhất thế giới, buộc NATO phải suy nghĩ lại cách các cuộc chiến tương lai sẽ được chiến đấu.

Tuần này, Tổng thư ký NATO Mark Rutte đã xác nhận Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy đã được mời tham dự hội nghị thượng đỉnh hàng năm của liên minh tại Ankara vào tháng Bảy, nhấn mạnh mức độ trung tâm của Ukraine đối với tương lai của NATO mặc dù chưa phải là thành viên của liên minh.

“Tôi nghĩ hôm nay quân đội Ukraine là quân đội số một ở châu Âu,” Thị trưởng Lviv Andriy Sadovyi nói với Digital trong một cuộc phỏng vấn tại thành phố phía tây Ukraine.

“Tôi nghĩ NATO cần quân đội Ukraine,” ông thêm.

Câu chuyện về tương lai của NATO đã gia tăng mạnh trong tuần này khi các bộ trưởng ngoại giao của liên minh tập hợp ở Thụy Điển trước hội nghị thượng đỉnh lớn của NATO vào tháng Bảy, với Bộ trưởng Ngoại giao Marco Rubio gọi cuộc họp sắp tới là “một trong những hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo quan trọng nhất trong lịch sử NATO.”

Rubio đã cảnh báo các đồng minh NATO trong tuần này rằng liên minh thiếu sản xuất đạn dược đủ cho các cuộc xung đột tương lai, một mối quan tâm được phản ánh bởi Đại tướng lữ Richard Newton đã nghỉ hưu, người nói rằng Pentagon đang nghiên cứu sự thích ứng công nghiệp thời chiến nhanh chóng của Ukraine.

“Một số quốc gia đang lấy một trang từ sự biến đổi cơ sở công nghiệp quốc phòng của Ukraine, về chất lượng cũng như sự tăng trưởng khổng lồ về số lượng vũ khí đến mặt trận,” Newton nói, thêm rằng: “Pentagon đang ghi nhận và làm việc để khuyến khích sự biến đổi cơ sở công nghiệp của chúng ta để chúng ta có thể cải thiện mạnh mẽ và cung cấp năng lực cho các lực lượng của chúng ta trên chiến trường nhanh hơn, không phải trong vài năm mà là trong vài tháng và có thể thậm chí vài tuần.”

Rubio cũng đề cập đến thông báo của Tổng thống Donald Trump rằng Mỹ sẽ duy trì triển khai quân đội ở Ba Lan sau những lo ngại vào đầu tuần về việc có thể giảm quân trên cánh phía đông của NATO.

Nói trước cuộc họp NATO, Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Radosław Sikorski đã chào đón thông báo của Trump. “Tôi muốn cảm ơn Tổng thống Trump vì thông báo của ông rằng sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Ba Lan sẽ được duy trì nhiều nhất hoặc ít nhất ở mức trước đó,” Sikorski nói.

“Tôi nghĩ điều này khiến Putin rất không thoải mái.”

Một số người lưu ý rằng cuộc tranh luận về tương lai của NATO mang đến sự trớ trêu sâu sắc cho Moscow.

Một trong những phàn nàn trung tâm của Tổng thống Nga Vladimir Putin trước khi xâm lược là sự mở rộng về phía đông của NATO và những tham vọng ngày càng tăng của Ukraine để tiến gần hơn đến liên minh. Moscow đã nhiều lần yêu cầu NATO rút lui dấu chân quân sự của mình đến mức trước năm 1997 và phản đối bất kỳ thành viên Ukraine trong tương lai nào.

Thay vào đó, cuộc xâm lược đã đẩy nhanh sự mở rộng của NATO.

Phần Lan đã chính thức gia nhập NATO vào năm 2023, kết thúc hàng thập kỷ không liên minh quân sự, trong khi Thụy Điển gia nhập vào năm 2024 sau khi cuộc xâm lược của Nga đã thay đổi đột ngột các tính toán an ninh trên toàn châu Âu bắc. Chỉ riêng Phần Lan đã thêm hơn 800 dặm biên giới trực tiếp của NATO với Nga.

Bây giờ các quan chức ở Ba Lan và Ukraine nói rằng cuộc chiến không chỉ mở rộng NATO về mặt địa lý mà còn biến đổi cơ bản chính liên minh.

“Trong nhiều thập kỷ, NATO chủ yếu tập trung vào các cuộc chiến远征军 và chống khủng bố,” Phó Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan Paweł Zalewski nói trong một cuộc phỏng vấn tại Warsaw. “Chiến tranh hiện đại chủ yếu được thực hiện bằng drone.”

“Không có lực lượng quân sự nào trên thế giới tốt hơn Ukraine” trong việc hiểu các thực tế chiến trường ngày nay, ông thêm.

Đại tướng đã nghỉ hưu Philip Breedlove, người từng giữ chức Tổng tư lệnh đồng minh tối cao của NATO ở châu Âu, nói rằng cuộc chiến đã biến đổi cơ bản cách các lực lượng quân sự trên thế giới hiểu chiến tranh hiện đại.

“Cuộc chiến ở Ukraine đã thay đổi nhiều hơn chỉ là sự hiểu biết của NATO về chiến tranh hiện đại — nó đã thay đổi sự hiểu biết của toàn thế giới,” Breedlove nói với Digital.

Breedlove thêm rằng quân đội Ukraine đã phát triển thành “một trong những lực lượng mạnh và đáng gờm nhất châu Âu” sau nhiều năm chiến đấu với Nga, mặc dù đã từ bỏ hũ chứa hạt nhân thời Liên Xô theo Hiệp định Budapest năm 1994.

“Ngày nay, hầu hết mọi người đồng ý rằng Ukraine không chỉ đang chiến đấu mà còn đang giành lại đất đai chống lại một trong những lực lượng đáng gờm nhất thế giới,” ông nói.

Sự biến đổi đó có thể thấy ở khắp Ukraine.

Trước khi Nga xâm lược, Ukraine có một trong những ngành IT lớn nhất ở Đông Âu. Sadovyi nói rằng cuộc chiến buộc phần lớn hệ sinh thái công nghệ đó chuyển hướng sang sản xuất quốc phòng.

“Trước khi xâm lược, chúng tôi có một cụm IT lớn ở Kyiv, 40.000 công nhân,” thị trưởng Lviv nói. “Trong cuộc chiến, chúng tôi đã xây dựng lại cụm IT thành cụm phòng thủ.”

Ukraine hiện đang vận hành một hệ sinh thái đổi mới thời chiến mở rộng nhanh chóng, tập trung vào drone, hệ thống chống drone, giao tiếp trên chiến trường và sản xuất vũ khí phân cấp. Các quan chức NATO và quân đội châu Âu ngày càng nghiên cứu kỹ lưỡng những bài học đó.

Breedlove nói rằng cuộc xung đột đã phơi bày giới hạn của sức mạnh không quân truyền thống và đẩy nhanh sự phát triển của chiến tranh bằng drone.

“Rất quan trọng để nhớ rằng cuộc chiến ở Ukraine đang được chiến đấu cơ bản mà không có sự hỗ trợ của chiến tranh không quân hiện đại vì sự thất bại của Không quân Nga,” ông nói.

“Đó là lý do tại sao chiến tranh bằng drone đã phát triển một cách bùng nổ, vì không bên nào có thể huy động được năng lực không quân hiện đại thực sự.”

Những thay đổi cũng đang định hình lại chiến lược NATO.

Quan chức quốc phòng Ba Lan Zalewski nói với Digital rằng Pentagon hiện đang thúc đẩy cái mà các quan chức Ba Lan mô tả là “NATO 3.0”, một mô hình trong đó châu Âu nhận trách nhiệm lớn hơn cho phòng thủ thông thường khi Hoa Kỳ chuyển nhiều sự chú ý hơn đến Trung Quốc và Vịnh Thái Bình Dương.

“Giả định chính của khái niệm này là về mặt thông thường, châu Âu sẽ tự bảo vệ mình,” ông nói.

Sự chuyển dịch này đến khi Ba Lan tăng mạnh chi tiêu quân sự và định vị mình là một trong những cường quốc quân sự hàng đầu của NATO trên cánh phía đông của liên minh. Warsaw đã chi gần 5% GDP cho quốc phòng năm nay, mức cao nhất trong NATO.

Các quan chức Ba Lan lập luận rằng cuộc chiến đã chứng minh Đông Âu đã đúng khi coi trọng mối đe dọa từ Nga từ lâu trước khi nhiều quốc gia Tây Âu làm.

“Cánh phía đông mạnh hơn nhiều so với cả năm trước,” Phó Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Marcin Bosacki nói với Digital trong quá trình báo cáo tại Warsaw.

“Chúng tôi đã đúng về bản chất của chế độ Putin và chiến lược hung hăng của Nga.”

Ukraine hiện không phải là thành viên NATO, và liên minh đã tránh đưa ra một lịch trình cụ thể cho Kyiv về việc gia nhập trong cuộc chiến vì lo ngại rằng nó có thể gây ra đối đầu trực tiếp giữa NATO và Nga.

Nhưng trên toàn Đông Âu, các quan chức ngày càng lập luận rằng tương lai của liên minh có thể phụ thuộc vào Ukraine bất kể thành viên chính thức hay không.

Bài viết được cung cấp bởi nhà cung cấp nội dung bên thứ ba. SeaPRwire (https://www.seaprwire.com/) không đưa ra bảo đảm hoặc tuyên bố liên quan đến điều đó.

Lĩnh vực: Tin nổi bật, Tin tức hàng ngày

SeaPRwire cung cấp phát hành thông cáo báo chí thời gian thực cho các công ty và tổ chức, tiếp cận hơn 6.500 cửa hàng truyền thông, 86.000 biên tập viên và nhà báo, và 3,5 triệu máy tính để bàn chuyên nghiệp tại 90 quốc gia. SeaPRwire hỗ trợ phân phối thông cáo báo chí bằng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Giản thể, tiếng Trung Truyền thống, tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Indonesia, tiếng Mã Lai, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và các ngôn ngữ khác.